Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

KHI TRUNG QUỐC HẠ CÁNH

Theo RFA

Những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc ngày càng rõ rệt hơn. Nhưng khi nền kinh tế đứng hạng thứ nhì thế giới mà bị suy trầm, hoặc thậm chí hạ cánh nặng nề thì kinh tế thế giới sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về kịch bản này.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, từ đã lâu trên diễn đàn này, ông nói đến nhiều dự báo không lạc quan về tình hình kinh tế Trung Quốc và nhắc tới những thử thách hay cơ hội cho các nền kinh tế khác. Vừa qua, tập đoàn ngân hàng Société Générale của Pháp lại có một báo cáo công bố tuần trước về kịch bản hạ cánh nặng nề của Trung Quốc với hậu quả bất lợi cho kinh tế toàn cầu, thí dụ như nếu đà tăng trưởng kinh tế xứ này từ hơn 10% mà giảm tới mức 2% thì tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới sẽ mất 1,5 điểm bách phân. Vì sao lại như vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đầu tiên mà chúng ta cần mường tượng ra về Trung Quốc thì phải thấy được nhiều mâu thuẫn quan trọng. Trước hết, đấy là một quốc gia lớn mà lại rất nghèo. Thứ hai, sau hơn ba chục năm tăng trưởng khá ngoạn mục, xứ này đang phải đổi hướng vì những bất toàn trong mô hình phát triển của họ. Thứ ba, vì hệ thống chính trị bên trong, xứ này khó chuyển hướng êm thấm mà có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí rủi ro khủng hoảng và trong giả thuyết ấy, thế giới sẽ lại bị hiệu ứng, cũng đáng ngại như vụ khủng hoảng tại Mỹ năm 2008 hay của khối Euro năm 2010. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mâu thuẫn này.
Vũ Hoàng: Vâng thưa ông, đầu tiên thì tại sao Trung Quốc có nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới về sản lượng mà lại là một nước cực nghèo?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc là một nước lớn, có lãnh thổ bằng diện tích của Hoa Kỳ mà là một lãnh thổ thiếu hai phương tiện sinh sống căn bản cho con người là đất và nước. Diện tích khả canh của họ chỉ bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Nếu tính theo đầu người của xứ này thì lượng nước ngọt, từ sông hồ đến giếng sâu và nước mưa thì thuộc loại thấp nhất Á Châu, và Á Châu thiếu nước nhất trong các lục địa của thế giới. về địa dư hình thể thì lãnh thổ xứ này là một bao lơn hiểm trở khắc nghiệt vây quanh và nhìn xuống vùng đất tương đối phì nhiêu hơn ở vùng duyên hải. Xưa nay, biển người từ bao lơn ba phía đổ xuống vùng Trung Nguyên đã làm nên lịch sử hợp tan của Trung Quốc.

Với thực tế ấy, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc có hơn 30 năm tăng trưởng từ 1979 đến 2009, trung bình là tăng 10% một năm. Từ một xứ có một tỷ 350 triệu người, đà gia tăng ấy quả là đáng kể khiến cho xứ này có sản lượng kinh tế thứ nhì thế giới sau Hoa Kỳ và trước Nhật Bản kể từ năm 2010. Nhưng sự thật thì Trung Quốc vẫn là một nước cực nghèo. Theo thống kê của Bắc Kinh thì chỉ có 60 triệu dân kiếm ra hơn hai vạn đô la một năm; 60 triệu người thì đông thật, mà vẫn chỉ là thiểu số hơn 4% giữa một tỷ 350 triệu. Trong khi ấy, có khoảng 600 triệu người không kiếm ra hai đồng một ngày để sống và có 400 triệu người giàu gấp đôi vì kiếm được từ hai đến bốn đô la một ngày. Vị chi, có một tỷ người Tầu chưa đạt mức lợi tức là bốn đô la một ngày! Thế giới chỉ nói đến một số đại gia tỷ phú ở chung quanh đảng mà quên cả tỷ người bần cùng ấy của Trung Quốc.
Vũ Hoàng: Mâu thuẫn thứ hai mà ông nhắc tới là những bất toàn trong mô hình phát triển của Trung Quốc. Thưa ông, đấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc đã có 30 năm tăng trưởng ngoạn mục, chủ yếu là nhờ sức đầu tư rất cao, có lúc lên tới phân nửa của Tổng sản lượng, còn thì thường xuyên cao hơn 40%. Với sức đẩy lớn lao này thì quả nhiên là người ta đạt tốc độ hơn 10%. Nhưng nếu mà xét về phẩm chất hay nội dung thật của tài nguyên được đưa vào sản xuất thì phải nói đến hiện tượng gọi là "sản nhập" vì nhập lượng ở đầu vào lại có giá trị cao hơn xuất lượng ở đầu ra. Lý do của sự thể ngược ngạo ấy là người ta đếm sản lượng ở đầu ra theo trị giá hay giá cả mà cái giá ấy không phản ảnh giá trị hay những hy sinh ở đầu vào. Đây là một khái niệm khá rắc rối về kế toán mà những người làm công tác tuyên truyền hay quảng cáo thường bỏ qua một bên.
Vũ Hoàng: Cũng vì khái niệm kế toán rắc rối ấy, xin ông nhắc lại hoặc đơn cử một thí dụ.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin trước tiên nhắc lại vài phạm trù kế toán với Anh ngữ để thành phần thính giả trẻ đã có kiến thức về kế toán tài chính nắm vững được vấn đề. Sau đó là thí dụ.
Thế giới bên ngoài Trung Quốc chỉ đếm phương tiện đưa vào sản xuất theo mệnh giá hay face value. Người ta đã lầm trị giá (price) với giá trị (value) của nhập lượng (input) rồi kiểm kê xuất lượng (output) để gọi đó là sản lượng (production) mà không khấu trừ nhiều phí tổn (cost) của nhập lượng này. Trong đó có những phí tổn ngầm mà ta phải gọi là "ẩn phí", shadow cost, như phí tổn về môi sinh bị hủy hoại, hoặc phí tổn về thời cơ của tư bản là opportunity cost vì dùng tiền vào chỗ này thì không có cơ hội dùng vào chỗ khác có giá trị hơn.
Thí dụ dễ hiểu ở đây là nhà nước huy động sức tiết kiệm rất cao của dân chúng và trả tiền lời ký thác rất thấp, gần như số âm nếu kể thêm mức lạm phát. Đấy là một hình thái trưng thu hay bóc lột từ gốc. Nguồn tiết kiệm rẻ này lại được hệ thống ngân hàng của nhà nước đưa vào khu vực là doanh nghiệp của nhà nước hay công ty đầu tư của nhà nước ở cấp địa phương, để thực hiện các dự án sau này được kể là sản lượng kinh tế. Một cây cầu hay một nhà máy thép hình thành như vậy và được tính là sản lượng dù có giá trị kinh tế rất thấp. Cầu có hư phải sửa lại và thép có ế mà nằm chất đống thì vẫn cứ được coi là sản xuất. Chả ai tính ra cái mất mát của hiện tượng này.
Vũ Hoàng: Bây giờ bước qua mâu thuẫn thứ ba là vì sao Trung Quốc khó chuyển hướng một cách êm thắm mà lại bị rủi ro hạ cánh nặng nề?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Từ cả chục năm nay, lãnh đạo của Trung Quốc đã thấy vấn đề này, cụ thể nhất là thấy mức đầu tư quá cao so với sức tiêu thụ quá thấp của nền kinh tế, vì vậy, họ đã muốn cải sửa. Thí dụ như trong Kế hoạch Năm năm thứ 11, từ 2006 đến 2011, lãnh đạo đảng đã đề ra yêu cầu nâng cao sức tiêu thụ nội địa, vậy là kết quả lại trái ngược. Năm 2000 thì sức tiêu thụ của tư nhân Trung Quốc ở mức 46% Tổng sản lượng, dù có thấp so với các nước cùng trình độ phát triển thì cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng kết quả thì năm 2012, sức tiêu thụ ấy lại sụt tới mức 36% của Tổng sản lượng. sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012, việc chuyển hướng lại được Hội nghị kỳ ba nêu ra vào cuối năm ngoái mà chưa biết là có thực hiện được hay chăng?
Vũ Hoàng: Thưa ông, đâu là những lý do cản trở việc cải cách này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin lấy một thí dụ khác liên hệ đến chuyện tiêu thụ lẫn hậu quả cho quốc tế là tỷ giá đồng Nguyên mà họ gọi là Nhân dân tệ Renminbi.
Trung Quốc đầu tư mạnh, sản xuất nhiều và phải xuất khẩu sản phẩm đó cho thế giới. Chế độ duy trì hệ thống ngoại hối có kiểm soát, là ghìm giá đồng bạc thật thấp nếu so với các ngoại tệ mạnh của thế giới như Mỹ kim hay Euro chẳng hạn. Họ muốn là nhờ tỷ giá thấp mà hàng rẻ và dễ bán hơn. Khi bán hàng rồi thì nhà nước thu về ngoại tệ, thí dụ như đồng đô la, và lập được một kho dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, nay lên tới con số tương đương là ba ngàn 800 tỷ đô la. Bối cảnh ấy che giấu sự thật là đồng Nguyên được định giá thấp hơn thực tế, hãy tạm lấy một mức thấp là bằng 10%. Nếu muốn chuyển hướng thì một trong các biện pháp họ nên áp dụng chính là nâng hối suất đồng bạc thêm 10% so với Mỹ kim chẳng hạn. Hậu quả sẽ ra sao?
Công nhân Trung Quốc trong một công xưởng sản xuất máy lạnh.
Công nhân Trung Quốc trong một công xưởng sản xuất máy lạnh.
Hậu quả là công nhân và doanh nghiệp mà góp phần xuất khẩu được một đô la thì sẽ có lợi tức gia tăng được 10% và nhờ đó nâng cao được sức tiêu thụ. Đấy là cái "được" của thành phần sản xuất và sẽ tiếp tay điều chỉnh cơ chế kinh tế lệch lạc hiện nay. Nhưng cái "mất" của biện pháp này là nhà nước bị mất 10% nguồn thu từ ngoại tệ đem về. Thí dụ cho dễ nhớ là mất 10% của khối dự trữ ngoại tệ 3.800 tỷ đô la, tức là mất 380 tỷ đô la. Sự thật thì khi duy trì tỷ giá thấp, Trung Quốc đã mất hàng ngày vì những chênh lệch về xuất nhập khẩu mà chưa bút ghi khoản mất đó. Bây giờ, với biện pháp điều chính tỷ giá thì người dân được 10%, nhà nước hợp thức hoá khoản mất đó. Dù thế giới đã khuyến cáo, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn không muốn như vậy nên người dân không được khoản 10% này và việc điều chỉnh vẫn chưa tiến hành. Lý do ở đây là nhà nước sợ mất tiền bạc và thế lực của mình, dù rằng cái mất đó lại là cái được của người dân.
Vũ Hoàng: Đây mới chỉ là một thí dụ cụ thể về lý do cản trở việc chuyển hướng, hẳn là ông còn thấy nhiều lý do khác nữa chứ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Một thí dụ khác là Hội nghị Trung ương kỳ ba vào Tháng 11 năm ngoái có để ra việc chuyển 20% dân số từ thôn quê ra các tỉnh thành trong kế hoạch đô thị hóa. Sự chuyển dịch ấy có nghĩa là lương bổng và phúc lợi của người dân từ quê ra tỉnh sẽ được cải tiến và lợi tức gia tăng sẽ nâng mức tiêu thụ của tư nhân trong thị trường nội địa. Nhưng chính quyền tại các thành phố ở địa phương lại không muốn gánh chịu khoản tốn kém ấy mà còn lo gia tăng nguồn thu về thuế khóa nên dồn phương tiện cho các dự án đầu cơ địa ốc. Họ vừa lấy đất của dân vừa lập công ty đầu tư tài chính để vay tiền làm ăn. Khi bị hạn chế và kiểm soát thì họ vay ngoại ngạch, ngoài ngân hàng, trong hệ thống tài chính chui có mức rủi ro rất cao.
Vũ Hoàng: Như vậy, vì rất nhiều nguyên do phức tạp trong nội bộ, Trung Quốc sẽ khó chuyển hướng và nguy cơ hạ cánh nặng nề mới khiến thế giới quan tâm. Khi đó, ta mới tìm hiểu về hiệu ứng Trung Quốc khi nền kinh tế này bị suy thoái trong những năm tới.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc là một thị trường nhập khẩu lớn của thế giới, trị giá đến 30% của Tổng sản lượng với rất nhiều nguyên nhiên vật liệu nuôi sống các nước xuất khẩu. Khi kinh tế xứ này bị trì trệ, với tốc độ tăng trưởng dưới 7%, hoặc suy trầm hay suy thoái mạnh, thì lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm mạnh và gây thiệt hại cho các nước bán thương phẩm, từ Úc đến Indonesia hay Malaysia và các nước Trung Đông bán dầu khí. Đấy là một lẽ. Nhưng giá thương phẩm sút giảm lại là điều có lợi cho xứ khác vì sẽ giảm phí tổn sản xuất.
Song song, có một khía cạnh còn đáng ngại hơn vậy là Trung Quốc đang có một núi nợ rất lớn và dễ sụp đổ sau khi đã ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Núi nợ lên tới mười mấy ngàn tỷ dô la, trong đó có nhiều khoản khó đòi và sẽ mất khi sản xuất bị đình trệ. Nếu mà núi nợ này sụp đổ thì nhiều ngân hàng vỡ nợ dây chuyền và hậu quả toàn cầu sẽ còn kinh hoàng hơn những gì đã thấy sau vụ khủng hoảng tại Hoa Kỳ năm 2008 hay tại Âu Châu năm 2010. Người ta nói rằng đây là "đợt sóng thần thứ ba" có thể xảy ra trong những năm tới. Qua một kỳ khác, ta sẽ tìm hiểu thêm về đợt sóng này.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và hẹn lại một kỳ sau.


Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

CA NGỢI CÁC 'KHIÊU VŨ VIÊN'

Dư luận viên VO VĂN VE

Mấy hôm rày, nhờ sự lan tỏa của internet mà Vo Văn Ve mới biết rằng vào giờ này, ngày này cách đây đúng 35 năm đã có một cuộc chiến. Thực hư thế nào thì nhà em sẽ tiếp tục tìm hiểu cho nó tỏ tường, chỉ biết đại thể là Việt Nam và Trung Quốc có đánh nhau. Các bác đừng vội trách móc la mắng rằng nhà em vô tình, nhưng em thề với các bác suốt 35 năm qua, có ai nói về cuộc chiến ấy cho nhà em biết đâu mà bắt em phải biết?

Lại cũng nhờ có internet mà những hình ảnh về « Lễ tưởng niệm » trước tượng đài Cụ Lý Thái Tổ được đăng lên rầm rộ trên các trang mạng, cùng với những lời bình luận ném đá không mấy hay ho thiện cảm về màn khiêu vũ trước tượng đài, cho rằng phá thối, em rất nấy nàm bức xúc.

Về việc khiêu vũ sáng 16-2-2014, để bảo vệ và ca ngợi các 'khiêu vũ viên thì quan điểm của Vo Văn Ve nhà em dư lày:

Một là, khiêu vũ là quyền lợi của mọi người, không ai có thể tự cho mình cái quyền được can thiệp, bình luận chủi bới về quyền lợi ấy. Mọi người có quyền được khiêu vũ bất cứ nơi nào và khi nào, miễn là họ cảm thấy vui sướng và … cần thiết.

Hai là, khiêu vũ là một nét đẹp thể thao và  văn hóa cần phải được phổ biến, nhân ra thành một phong trào rộng khắp các tỉnh thành. Phải tạo ra và duy trì được sinh hoạt đều đặn của một đội ngũ ‘khiêu vũ viên’ hùng hậu, có lập trường tư tưởng vững vàng, sẵn sàng tham gia ứng chiến bất kỳ lúc nào khi cấp trên yêu cầu.

Ba là, khiêu vũ là một bộ môn thể thao mang tính nghệ thuật, trong đó đòi hỏi rất nhiều ở yếu tố năng khiếu. Không thể vội vàng mắng nhiếc những vũ công đã tham dự vào buổi khiêu vũ sáng 16-2-2014 ấy, rằng họ đã phá thối Lễ tưởng niệm cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược, ấy quên, cuộc chiến Biên giới phía Bắc 1979. Bời lẽ khiêu vũ không những là năng khiếu mà còn là lẽ sống, là hơi thở, là nhịp đập con tim của họ. Cũng không loại trừ khả năng sổ hưu của các vũ công có liên quan đến vấn đề khiêu vũ! Nếu khiêu vũ mà thêm nhiều thu nhập thì há chẳng là điều rất tốt đó sao?

Bốn là, những vũ công này nhờ vào tài năng bẩm sinh mà đã trốn tránh được, không phải tham gia vào các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống …, ấy lại quên, cuộc chiến Biên giới phía Bắc và Biên giới Tây Nam. Khả năng khiêu vũ của họ đã trưởng thành và thử thách qua những năm tháng gian nan nằm hầm vất vả, trốn chui trốn nhủi ấy. Họ mới biểu diễn cho thỏa chí, bù lại khoảng thời gian đã mất, có vài tiếng đồng hồ buổi sáng Chủ nhật dưới chân Cụ Lý Thái Tổ mà các thế lực thiếu thiện chí đã nhao nhao lên trách mắng. Thật là vội vã đến mức có thể nói là cực thiếu suy nghĩ.

Năm là, những hình ảnh khiêu vũ đã được các báo quốc tế đồng loạt đăng tải, cho thấy một đời sống bình yên và no ấm của nhân dân. Cứ nhìn vào gương mặt rất viên mãn sung túc, sống chết mặc bay của các anh chị cũng thấy nổi bật lên sự giàu có và vô công rồi nghề, không phải làm gì cũng sống nhăn, chỉ cần khiêu vũ, khiêu vũ và khiêu vũ! Nó cũng thể hiện rất rõ bản lĩnh kiên cường, ý chí sắt thép của các ‘khiêu vũ viên’, dẫu phải biểu diễn dưới thời tiết giá lạnh chỉ với sơ mi thậm chí áo hai dây mà nét mặt các anh chị vẫn trơ lì gan dạ, dẫu phải nhảy nhót trong tiếng phản đối của những người dự Lễ Tưởng niệm, các ‘khiêu vũ viên’ vẫn điếc không sợ súng, mà lúc thì tưng bừng, lúc thì rất chi là khoan thai dìu dặt. Trong dzụ này, công lao của các 'khiêu vũ viên' đối với thiên triều là hết sức to lớn! Quả thật, Vo Văn Ve nhà em ngưỡng mộ các anh chị ‘khiêu vũ viên’ vô cùng.



Phá thối Lễ Tưởng niệm cuộc chiến 1979 - Biểu tượng của sự lì lợm và trơ tráo (Nguồn: AP)









































Một võ sư, vũ công với áo hai dây đang khiêu khích cụ Lê Hiền Đức

(Nguồn: Tễu Blog)

Sáu là, và đây cũng là điều cuối cùng, điều này nhà em muốn nói với các bác tham dự Lễ Tưởng niệm sáng 16-2-2014. Rằng thì là, phàm chuyện gì, người ta không khuyến khích thì các bác cũng đừng hăng hái mà tham gia. Mọi việc đã có người khác lo. Quan hệ hữu nghị Việt Trung là trên hết, là môi răng, tuân theo 4 tốt và 16 chữ vàng của Chủ tịch Giang Trạch Dân kính yêu! Phải thấm nhuần rằng tất cả vì đại cục, không để bất cứ điều gì ảnh hưởng tới cái đại cục này! Nếu thật sự cần tưởng niệm thì đã có những buổi tượng niệm công khai hoành tráng, chứ đâu đến mức xảy ra tình trạng: người thì tường niệm thâm trầm nghiêm trang, kẻ thì nhảy nhót quay cuồng bên cạnh, trông chã ra nàm thao!

VO VĂN VE
5g30 sáng 17 tháng 2 năm 2014


Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

NHÀ THƠ DƯƠNG SOÁI VÀ ‘GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG’


Dương Soái vừa tự hào lại vừa chạnh lòng với cái việc lúc nào người ta cũng chỉ biết tới anh như là tác giả có duy nhất một bài thơ hay Gửi em ở cuối sông Hồng.
Dẫu cái tên Dương Soái rất… tướng soái, lại thêm việc anh làm thơ với hình ảnh anh lính trận mạc nhớ người yêu ở đầu ngọn sông Hồng, thế cho nên ai cũng tưởng Dương Soái một đời là lính chiến.
Thật ra thì Dương Soái - hiện là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Yên Bái - vốn là công nhân địa chất, 11 năm mưa đi tìm quặng ở Hoàng Liên Sơn (cũ). 11 năm ấy, anh “cũng kiếm được khoảng 30 bài thơ”.
Sau 11 năm trò chuyện với từng vỉa tầng quả đất vừa già nua vừa tươi mới, Dương Soái làm phóng viên chiến trường trên mặt trận biên giới Lào Cai, hồi tháng 2/1979. Anh đi gần như trọn vẹn cuộc chiến tranh biên giới vùng Lào Cai, tận mắt nhìn thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng đã bật ra từ hoàn cảnh đó.
Giữa hai trận đánh, anh ngồi trong căn nhà lá ở Phố Lu (là nhà khách của huyện) và làm… thơ. Anh viết trong tâm trạng của một người mong manh sinh tử ngoài mặt trận, muốn gửi tình yêu thương tha thiết ấy về với người hậu phương.
Trong tâm trạng của một người yêu gửi một người yêu (thực tế, lúc bấy giờ, người vợ trẻ và gia đình Dương Soái cũng đang ở Duy Tiên, Hà Nam - cuối sông Hồng). Anh viết, khi anh nhớ tới những lá thư viết vội, viết dở, hoặc không kịp viết gì của những người lính trẻ ngoài mặt trận bỏng rát kia.
Dương Soái trăn trở nhiều với thơ. Cho nên, cái buổi sáng nghe cô bạn bên trường Sư phạm nói: “Bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng của anh được nhạc sỹ Thuận Yến phổ nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam vừa phát hay lắm”, Dương Soái rất phấn chấn. Đó là vào năm 1980.
Từ đó, tên Dương Soái đã thêm một lần đóng đinh với Gửi em ở cuối sông Hồng, nhất là trong cái góc làng văn nghệ vốn vẫn lặng lặng với mây núi Hoàng Liên Sơn, nơi anh sống và công tác. Độ ấy, liên tục thính giả yêu cầu nhà đài phát lại bài Gửi em ở cuối sông Hồng.
Không ngờ khoảng một năm sau, anh Sum - Người Mường, Giám đốc Nhà máy Thủy điện Thác Bà (Yên Bái) gọi điện mời Dương Soái tới nhà uống rượu. Dương Soái đến, mới ngã ngửa ra, khách là vợ chồng nhạc sỹ Thuận Yến.
Vừa lên nghỉ mát ở hồ Thác Bà, nhạc sỹ Thuận Yến nóng lòng hỏi ngay địa chỉ thi sĩ Dương Soái để cảm ơn và nói lời tri kỷ. Lần đầu tiên hai tác giả Gửi em ở cuối sông Hồng gặp nhau và uống rượu. Nhạc sỹ trân trọng và chu đáo vô cùng với tác giả bài thơ Gửi em ở cuối sông Hồng.
Bây giờ ngồi bàn lại câu chuyện Gửi em ở cuối sông Hồng, Dương Soái thầm cảm ơn nhạc sỹ Thuận Yến, người đã nhuận sắc cho bài thơ được đi vào lòng người yêu thơ, yêu nhạc.
Rằng, thơ Dương Soái viết “Anh ở Lào Cai, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”,đấy là cái tình rất cụ thể của người chiến sỹ ở mặt trận Lào Cai bỏng lửa năm 1979, nhưng khi ông Thuận Yến phổ nhạc: “Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, tự dưng bài thơ phổ quát hơn, thơ bay rộng hơn trên khắp dải biên cương từ địa đầu Lũng Cú tới cực mũi Cà Mau.
Hình như có những nhiều “hạt sạn” vui vui, và tính cục bộ trong một cuộc chiến ở một vùng phên giậu trong bài thơ đã được Thuận Yến “sửa sang” rất kỹ.
Đến những đoạn như sau trong bài hát thì hoàn toàn không phải là của Dương Soái: “Em ở phương xa/ nơi con sông Hồng chảy về với biển/ ở trên anh đầu nguồn biên giới/ Cuối dòng sông nơi ấy em chờ./ Em ở phương xa/ cách mười sông ba núi bốn đèo”.
Nhưng, cũng có những câu thơ hay nguyên bản của Dương Soái mà những người chỉ nghe nhạc thôi sẽ chưa có dịp được thưởng thức, khi người lính từ trên chốt chiến đấu xuống mặt nước nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, chàng ước ao: “Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng…/ Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy/ Em ra sông chắc là em sẽ thấy/ Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông”.
Những câu thơ ấy đẹp và da diết đến day dứt lòng.

                              ĐỖ DOÃN HOÀNG – Tiền Phong 27/4/2006


Nhà thơ Dương Soái


GỦI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG

Anh ở Lào Cai
Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Tháng Hai, mùa này con nước
Lắng phù sa in bóng đôi bờ

Biết em năm ngóng, tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt
Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong

Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông
Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét
Biết màu màng đồng quê chưa cấy hết
Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?

Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng...
Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy
Em ra sông chắc em sẽ thấy
Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa Đông.

Nhưng thơ ngây đâu còn ở chúng mình
Khi Tổ quốc trao anh lên tuyến đầu chặn giặc
Khi biên cương trong anh đã trở thành máu thịt
Đạn lên nòng anh giữ trọn nguồn sông

Nỗi nhớ cho em chưa viết được đôi dòng
Đạn quân thù bỗng cuồng điên vào thị xã
Xe tăng thù nghiến mặt sông êm ả
Nhịp cầu thù chặt đứt chờ mong

Bão lửa này mang sức mạnh hờn căm
Phá cầu thù, xé vụn xe tăng giặc
Giữa dòng sông nghìn xác thù ngã gục
Máu giặc loang ố cả một vùng

Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng
Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ
Là niềm thương anh gửi về em đó
Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.



Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

ĐỒNG CHÍ HỒNG LỖI ĐÃ CHỈ RÕ

Dư luận viên VO VĂN VE
 Suốt mấy ngày Tết, Vo Văn Ve nhà em buồn thê thảm. Công việc chẳng có, lương bổng cũng không, tất nhiên là tiền thưởng Tết cũng không nốt. Tất cả vợ con đều cho về tá túc bên ngoại vì nuôi hổng nổi. Đang đói và rầu thúi ruột, bỗng nhiên được biết đồng chí Hồng Lỗi của Trung Quốc đã lên tiếng chính thức phản đối chỉ trích của Mỹ về cái gọi là ‘đường lưỡi bò’, Vo Văn Ve nhà em gượng ngồi dậy post mấy dòng dưới đây biểu thị thái độ ủng hộ và hoan nghênh tuyên bố của đồng chí Hồng Lỗi, và dĩ nhiên là phản đối Mỹ đã ngang ngược can thiệp vào vấn đề nội bộ giữa Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á.
Hy vọng sau bài này, các cấp bề trên sẽ lại chú ý mà tiếp tục đặt bài, giúp cho gia đình dư luận viên Vo Văn Ve qua cơn nghèo đói. Cho dù có thể ai đó xấu mồm độc miệng mà ví nhà em như  Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống thì cũng chả sao, miễn là Vo Văn Ve nhà em tiếp tục được bấm nút, phản ứng nhanh để kiếm ít tiền.
Đội ơn các cấp bề trên lắm lắm ạ.


Đồng chí Hồng Lỗi
Theo bản tin của Tân Hoa Xã ngày 9-2-2014, đồng chí Hồng Lỗi, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) được hình thành từ lịch sử và được luật pháp quốc tế bảo vệ.
Khẳng định đanh thép của đồng chí Hồng Lỗi là sự đáp trả đích đáng đối với tuyên bố của Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, ông Danny Russel, về chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Nam Trung Hoa.
Phát biểu trước một Ủy ban của Quốc hội Hoa Kỳ hôm thứ Tư 5-2-2014, ông Russel nói rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa không tuân thủ luật pháp quốc tế, cần phải được làm rõ hoặc điều chỉnh. Ông này còn ngang nhiên tuyên bố: ‘Việc Trung Quốc sử dụng đường chín đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò) để đòi các quyền hàng hải mà không dựa trên những đặc điểm địa hình đều không phù hợp với luật pháp quốc tế.
Đáp lại những phát biểu vô trách nhiệm nói trên, đồng chí Hồng Lỗi khẳng định: Trung Quốc đã cam kết sẽ giải quyết các tranh chấp trên biển với các bên có liên quan trực tiếp thông qua đàm phán và trao đổi ý kiến.
Đồng chí Hồng Lỗi chỉ rõ: Trung Quốc coi trọng việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa (DOC), trong một nỗ lực để cùng nhau bảo vệ hòa bình và ổn định trên vùng biển này.
Đồng chí Hồng Lỗi mạnh mẽ khẳng định: Lập trường của Trung Quốc là rõ ràng và nhất quán. Việc bịa ra các chủ đề nóng và tạo ra tình hình căng thẳng là không có lợi cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á.
Đồng chí Hồng Lỗi nghiêm khắc phê bình: Nhận xét của một số quan chức Mỹ trước Quốc hội là không mang tính xây dựng. Mỹ cần phải có một thái độ hợp lý và công bằng đối với vấn đề Biển Nam Trung Hoa nhằm đóng một vai trò xây dựng trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực, thay vì những phương thức quanh co rắc rối.


Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

DIỀU HÂU TRUNG QUỐC VÀ HỘI CHỨNG ĐÁNH CHIẾM TRƯỜNG SA

Theo RFI

Trong những ngày qua, báo chí Trung Quốc rồi Philippines liên tục loan tin về một kế hoạch của quân đội Trung Quốc nhằm đánh chiếm một hòn đảo lớn do Philippines trấn giữ trong vùng quần đảo Trường Sa. Hư thực của kế hoạch này còn trong vòng tranh cãi, nhưng chắc chắn đây là những thông tin đến từ giới diều hâu Trung Quốc, từ lâu nay luôn luôn bị ám ảnh bởi mong muốn đánh chiếm toàn bộ Biển Đông, đến mức có thể gọi đây là một hội chứng.
Trước cái gọi là kế hoạch đánh Philippines để chiếm lấy đảo Thị Tứ (tên Philippines là Pag-asa, tên Trung Quốc Trung Nghiệp đảo), báo chí Trung Quốc vào giữa năm ngoái 2013 từng đưa ra một chiến lược rửa nhục « mất nước » của họ khi tiết lộ 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc tất yếu phải thắng trong vòng 50 năm tới đây. Trong số các cuộc chiến này, Biển Đông được xếp thứ hai trong thứ tự ưu tiên, chỉ sau Đài Loan. 
Về kế hoạch đánh chiếm đảo Thị Tứ, nhật báo The Philippine Star, ngày 14/01/2014 dẫn lại bài viết tiếng Hoa đăng trên báo mạng Tiền Chiêm (Qianzhan) – tức là Triển vọng - của Trung Quốc, và được báo mạng China Daily Mail cũng của Trung Quốc dịch qua tiếng Anh. 
Theo tác giả bài này, thì Hải quân Trung Quốc đã vạch kế hoạch tác chiến chi tiết để tấn công và chiếm giữ đảo Thị Tứ, bị Bắc Kinh cho là đang bị Philippines chiếm đóng trái phép. Chiến sự chỉ giới hạn ngoài Biển Đông, chứ không lan vào lãnh thổ Philippines. 
Thị Tứ là đảo lớn thứ hai trong quần đảo Trường Sa, hiện đang do Philippines kiểm soát, đặt trên đấy cả một sân bay, cư dân bao gồm cả lính và thường dân khoảng 200 người. Đảo này hiện có 4 bên tranh chấp chủ quyền : Việt Nam, Philippines, Trung Quốc và Đài Loan. 
Tờ báo mạng Trung Quốc Tiền Chiêm dẫn một số nguồn tin cấp cao cho biết là kế hoạch dự trù trước tiên việc sẽ ra tối hậu thư buộc Philippines rút nhân sự, cơ sở khỏi đảo Thị Tứ rồi mớitriển khai Hạm đội Nam Hải xua quân chiếm đóng.
Cuộc chiến được dự báo sẽ chỉ kéo dài trong 2 giờ đồng hồ và hải quân Trung Quốc sẽ nhanh chóng thiết lập cơ sở phòng thủ trên đảo nhưng sẽ không « tiến sâu vào lãnh thổ Philippines».Tờ báo cũng cho biết là phía Trung Quốc cũng đã chuẩn bị đối phó nếu Mỹ hỗ trợ đồng minh Philippines, dùng Hạm đội Bắc Hải và Hạm đội Đông Hải để chặn Hạm đội 7 của Mỹ không cho tiến gần khu vực Trường Sa. 
Chính phủ Philippines phản ứng rất bình tĩnh trước các thông tin này, cho biết là sẽ xem xét thực hư trước khi ra tuyên bố chính thức. 
Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên mà giới diều hâu tại Trung Quốc tung ra nào là chiến lược, nào là kế hoạch nhằm tấn công chiếm lại những vùng lãnh thổ, biển đảo, hiện do các láng giềng kiểm soát, nhưng bị Trung Quốc cho là trước đây đã thuộc chủ quyền của họ. 
Đáng chú ý nhất trong các chiến lược, kế hoạch này là tiết lộ hồi mùa hè năm 2013 vừa qua về các cuộc chiến mà Trung Quốc phải khởi động trong vòng nửa thế kỷ tới đây, với những mốc thời gian cụ thể. 
Kế hoạch này xuất hiện trong một bài báo tiếng Hoa ngày 18/07/22013 đăng trên tờ Văn Hối Báo (Wenweipo) thân Bắc Kinh tại Hồng Kông, mang tựa đề « Trung Quốc vị lai 50 niên lí tất đả đích lục tràng chiến tranh », tức là « Sáu cuộc chiến mà Trung Quốc tất yếu phải đánh trong 50 năm sắp tới ». Bài này sau đó đã được nhiều trang mạng dịch ra tiếng Anh dưới tựa : Six Wars China Is Sure to Fight In the Next 50 Years. 
Theo thứ tự thời gian, bài báo nêu lên các cuộc chiến sau đây : 
1. Thống nhất Đài Loan (2020-2025) 
2 . Tái chinh phục các quần đảo ở Biển Đông (2025-2030) từ tay các nước Đông Nam Án với đối tượng cần đánh phủ đầu là Việt Nam. 
3 . Tái chinh phục vùng Nam Tây Tạng (2035-2040) bằng cách tăng cường giúp đỡ kẻ thù của Ấn Độ là Pakistan, qua đó thúc đẩy sự phân rã của Ấn Độ. 
4 . Tái chinh phục từ tay Nhật Bản các quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) cũng như chuỗi đảo Ryukyu (có đảo Okinawa) trên Biển Hoa Đông (2040-2045) 
5 . Thống nhất vùng Ngoại Mông (2045-2050), cho phép Trung Quốc đưa quân đến sát biên giới Nga, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thứ sáu. 
6 . Khôi phục các lãnh thổ bị Nga chiếm đoạt (2055-2060). 
Liên quan trực tiếp đến Việt Nam trong danh mục trên đây là cuộc chiến tranh thứ 2 nhằm chiếm quần đảo Trường Sa. Theo tác giả bài báo, cuộc chiến này đặt tiền đề trên khả năng các quốc gia Đông Nam Á run sợ sau khi Trung Quốc thống nhất được với Đài Loan bằng võ lực. 
Bài báo viết : 
« Sau khi thống nhất Đài Loan (vào năm 2025), Trung Quốc sẽ nghỉ ngơi trong hai năm. Trong thời gian dưỡng sức, Trung Quốc sẽ gửi tối hậu thư cho các nước xung quanh quần đảo Trường Sa với thời hạn chót là năm 2028. Các nước có tranh chấp chủ quyền quần đảo có thể thương lượng với Trung Quốc để bảo tồn các phần đầu tư của họ tại Trường Sa, nhưng phải từ bỏ đòi hỏi lãnh thổ. Nếu không, một khi Trung Quốc tuyên chiến với họ, phần đầu tư và lợi ích kinh tế của họ tại Trường Sa sẽ bị Trung Quốc tịch thu ».
Tác giả bài báo giả định rằng trước uy lực của Trung Quốc, các nước Đông Nam Á sẽ ngồi vào bàn đàm phán, nhưng sẽ không muốn từ bỏ lợi ích của họ. Do đó, họ sẽ có thái độ chờ thời, và tiếp tục trì hoãn không đưa ra quyết định cuối cùng. Họ sẽ chần chờ, phân vân giữa hòa bình và chiến tranh cho đến khi Trung Quốc hành động. 
Về khả năng Mỹ can thiệp, tác giả bài báo cho rằng sau khi bất lực không ngăn được Trung Quốc đánh chiếm Đài Loan trong cuộc chiến trước đó, Hoa Kỳ sẽ tránh trực tiếp đối đầu với Trung Quốc, mà tìm cách ngấm ngầm giúp các nước Đông Nam Á, như Việt Nam và Philippines. 
Theo tác tác giả bài viết, trong số các nước quanh Biển Đông, chỉ có Việt Nam và Philippines là dám thách thức sự thống trị của Trung Quốc. Tuy nhiên, hai nước này sẽ suy nghĩ hai lần trước khi lao vào cuộc chiến với Trung Quốc, trừ khi họ thất bại trên bàn đàm phán và chắc chắn được hỗ trợ quân sự từ Mỹ. 
Về chiến thuật tấn công, bài báo không một chú mơ hồ : « Lựa chọn tốt nhất đối với Trung Quốc là tấn công Việt Nam trước, vì Việt Nam là quốc gia mạnh nhất trong khu vực. Đánh bại được Việt Nam là có thể đe dọa được các nước còn lại. Trong khi cuộc chiến tranh với Việt Nam diễn ra, các nước khác sẽ không động đậy, và nếu Việt Nam bị thua, các quốc gia sẽ trao trả các đảo lại Trung Quốc vì nếu không, họ sẽ tuyên chiến với Trung Quốc ». 
Điều đáng ghi nhận là tính chất không tưởng của kế hoạch trên đây, vì xuất phát trên tiền đề là tất cả các nước bị Trung Quốc tấn công đều ngồi yên để cho Trung Quốc đánh, trong lúc cộng đồng quốc tế cũng lặng thinh không nói gì. Kịch bản đánh chiếm đảo Thị Tứ do Philippines vừa được tung ra cũng xem nhẹ phản ứng từ bên ngoài. Dẫu sao, khi đã gọi là hội chứng, thì phần logic không cần thiết.


Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

TS ĐINH HOÀNG THẮNG: LỆ THUỘC “MƯỜI SÁU CHỮ VÀNG” và “BỐN TỐT” CÓ THỂ DẪN ĐẾN NHỮNG HẬU HỌA KHÔN LƯỜNG CHO ĐẤT NƯỚC.



Ngày 19/1, tại tp Đà Nẵng có Hội thảo khoa học nhân sự kiện 40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Dưới đây là phát biểu của TS Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao tại buổi Hội thảo đó:
Trận hải chiến bi hùng xẩy ra cách đây 40 năm nhắn nhủ chúng ta điều gì, nhìn từ hôm nay? Có thể có ba thông điệp. Thông điệp đầu tiên, đó là lợi ích của quốc gia – dân tộc bao giờ cũng là tối thượng! Một khi biết đặt chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc lên trên hết, mọi trở ngại khác đều có thể tìm ra phương hướng giải quyết. Thông điệp thứ hai, lợi ích quốc gia, quyền lợi dân tộc không phải là điều gì trừu tượng, ngược lại nó mang nội dung rất cụ thể và sát sườn đối với mọi người Việt yêu nước. Lợi ích này còn gắn bó chặt chẽ với lợi ích của khu vực và quốc tế.Thông điệp thứ ba, 40 năm trôi qua, nay là lúc mỗi chúng ta, nên tự vấn lương tâm, đã làm gì để “đưa Hoàng Sa gần với đất liền”, để trở thành “công dân danh dự của Hoàng Sa”, làm gì để giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa?
Mất Hoàng Sa, không giữ được Trường Sa sẽ mất Biển Đông. Mà mất Biển Đông là sẽ mất con đường sống, mất một hải lộ giao thương huyết mạch của quốc gia, của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và tuyên bố của nhiều nước trong những ngày qua đang cho thấy tính nghiêm trọng của vấn đề. Ở thời khắc hiện tại, khi chúng ta tưởng niệm ngày quần đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, dù chỉ rộng có 8 cây số vuông, nhưng những thông điệp từ Hoàng Sa ngày ấy đã xuyên suốt không gian và thời gian, giờ đây đang trở nên bức bách và đáng báo động. Trên thực tế, những thông điệp ấy đang vượt ra khỏi mọi khuôn khổ tưởng niệm hay hội thảo khoa học trong những ngày này. Sau đây, tôi xin trình bày sâu hơn từng nội dung của mỗi thông điệp:
I. Chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc là tài sản quý nhất
Các chuyên gia sẽ còn mất nhiều thời gian nghiên cứu các sự kiện 19/1/1974 và 14/3/1988 để tiếp tục rút ra bài học cho những người Việt hôm nay và các thế hệ mai sau. Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ không thuộc sở hữu của riêng ai. Đó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6 Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 16/10/2012 đã cam kết: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia”. Nhưng chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc không chỉ là vấn đề của lãnh đạo đất nước, đó còn là vấn đề của toàn dân. Hơn thế nữa, đó từng là khát vọng ngàn đời của những người con đất Việt từ khắp mọi góc bể chân trời.
Lấy chủ quyền quốc gia/độc lập dân tộc làm hệ quy chiếu sẽ thêm điều kiện cho khối đoàn kết toàn dân vững mạnh. Bởi vì, cả ba lần Trung Quốc đem quân thôn tính Hoàng Sa vào các năm 1909, 1956 và 1974 đều trùng vào thời điểm Việt Nam phải đối mặt với chiến tranh và chia cắt. Do hoàn cảnh ấy, tiềm lực quốc gia và đồng thuận xã hội bị suy giảm. Nay công nhận 74 chiến binh Việt Nam CH như đã từng công nhận 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam trong vụ thảm sát Gạc Ma là liệt sĩ, là cắm một cột mốc quan trọng trên con đường hòa hợp-hòa giải. Thống nhất giang sơn đã khó, thống nhất lòng người còn khó hơn. Một dân tộc sẽ không thể trưởng thành nếu lòng dân ly tán. Không có hòa hợp-hòa giải, sẽ không có dân chủ-pháp quyền. Thiếu dân chủ-pháp quyền sẽ không có phát triển-thịnh vượng.
Nhìn từ lợi ích quốc gia, chúng ta càng thấm thía hơn bài học cảnh giác. Trong quan hệ quốc tế, không thể “thật dạ tin người”. Mọi thứ đều có thể thay đổi, chỉ có bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia là không bao giờ thay đổi. Chính sách ngoại giao của ta, được công bố ngay từ những ngày nền cộng hòa dân chủ còn trong trứng nước, đó là chính sách ngoại giao có tính dân tộc và dân chủ. Chính sách ấy lấy tư tưởng Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” làm điểm xuất phát. Qua những năm Đổi mới, chính sách ấy nhấn mạnh chủ trương “đa dạng hóa, đa phương hóa”. Đa phương hóa các quan hệ quốc tế là bất biến, tạo ra và duy trì thế “cân bằng động” là bất biến để tùy cơ ứng biến với những điều đang và sẽ thay đổi của các đối tác, trong đó hàng đầu là của các cường quốc.
Một điều “bất biến” nữa giữa Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng cùng chung biên giới/biển đảo. Hai nước phải sống chung với nhau là điều vĩnh viễn và không thay đổi. Tuy nhiên, cuộc sống chung ấy cần được xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là trong tương quan “bất biến” với chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức ra điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “vạn biến” như “mười sáu chữ”, hay “bốn tốt” đều có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu họa khôn lường cho đất nước! Chỉ cần hữu hảo ở mức tối thiểu với nước ta, thì Trung Quốc đã không thể công bố lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông trong những ngày này khi khắp cả nước ta đang tưởng niệm 40 năm ngày Hoàng Sa bị cưỡng chiếm.
II. Phải gắn tài sản nói trên với người dân, với khu vực và quốc tế
Lợi ích quốc gia, quyền lợi dân tộc không phải là điều gì trừu tượng, ngược lại đó là những điều rất cụ thể, rất sát sườn đối với mọi người Việt Nam. Lợi ích quốc gia – dân tộc gắn với đời sống mưu sinh hàng ngày của mọi người dân. Đất nước ta ba phần là biển, một phần là đất. Vậy mà trong số nhiều bộ, nhiều ngành đang quản lý “một phần là đất” kia, vẫn chưa hề có Bộ Kinh tế Biển. Tưởng niệm 40 năm Hoàng Sa thất thủ là dịp chúng ta nên ngẫm lại về “tư duy biển”, về “triết lý phát triển biển”. Tư duy đó, triết lý đó đang phát triển hay tụt hậu? Những ngày Trung Quốc ban bố lệnh cấm đánh cá trên hầu hết 2/3 diện tích Biển Đông này, chúng ta yêu cầu gì, nếu như không phải là yêu cầu chính đáng, ngư dân ta mỗi lần ra khơi đánh bắt xa bờ phải được tự vệ và cần được bảo vệ.
Tình cảm của những ngư dân có cuộc sống cheo leo giữa biển khơi sóng dữ trong những ngày này không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ. Quyền lợi của Việt Nam gắn bó với quyền lợi của cả khu vực và quốc tế. ASEAN, Mỹ, Nhật và nhiều nước châu Á khác đều hiểu rất rõ: Trung Quốc đâu chỉ bắt nạt hay bắt bí một mình dân Việt Nam. “Chuông nguyện hồn ai?” Các nước trong khu vực và trên thế giới nhận thức từ rất sớm, chuông nguyện chính cả bản thân mình. Đài Loan, Philippines, Mỹ và Nhật Bản đều đã lên án Trung Quốc. Hy vọng lần lượt sẽ có phản kháng từ các nước khác. Trung Quốc không thể biến một hải lộ vận tải quốc tế có ý nghĩa sống còn đối với nhiều nước thành cái ao nhà của mình. “Những kẻ bắt cóc trên biển” không thể tự tung tự tác, múa gậy vườn hoang như thế.
Chủ nghĩa khu vực “mở” sẽ là nguồn sức mạnh. Các quốc gia trong vùng không thể “khấu đầu” trước một Trung Quốc hung bạo, hành động trái với đạo lý và luật pháp quốc tế. Nếu cứ chấp nhận như vậy, sau lệnh cấm đánh bắt cá và các tàu thuyền lưu thông trên Biển Đông phải xin phép nhà đương cục Hải Nam thì tới đây, Trung Quốc có thể sẽ thiết lập ADIZ trên Biển Đông và cứ thế tiếp tục leo thang. Kết quả là DOC bị Trung Quốc chà đạp, COC sẽ không đi đến kết cục như đa số thành viên ASEAN mong đợi. Biển Đông sẽ căng thẳng hơn và hỗn loạn. Các nước trong vùng buộc phải chạy đua vũ trang. Khu vực giống như một thùng thuốc súng. Tình trạng “bên miệng hố chiến tranh” sẽ lấn át viễn cảnh hòa bình. An ninh và an toàn hàng hải trên Biển Đông sẽ bị đe dọa từng phần và toàn cục.
III. Chúng ta làm gì vì Hoàng Sa và Trường Sa?
Không một quốc gia nào đón đợi viễn cảnh nói trên, trừ những kẻ rắp tâm gây ra trạng huống ấy. Vì vậy, thông điệp thứ ba từ Hoàng Sa chính là trách nhiệm chúng ta đối với sự nghiệp bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Trong những ngày này, một lần nữa, xin đề nghị nhà nước CHXHCN Việt Nam chính thức công nhận 74 chiến binh của Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa cách đây 40 năm là những liệt sĩ. Vẫn biết, sự tôn vinh trong trái tim nhân dân là sự tôn vinh cao nhất và vĩnh hằng. Nhưng như đã nói ở trên, sự công nhận chính thức của nhà nước cũng là “nhất cử lưỡng tiện”. Nhân đây xin đề xuất: đưa các cuộc chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, đưa các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978 và biên giới phía Bắc năm 1979 vào sách giáo khoa lịch sử.
Đảo bị chiếm không đồng nghĩa với đảo bị mất! Để giành lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, phải coi trọng cuộc đấu tranh chính trị và pháp lý. Trung Quốc đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng là hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế. Dù Trung Quốc không đồng ý, Việt Nam vẫn phải thu thập, hoàn chỉnh hồ sơ trên cả hai mặt: tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp hàng hải. Phải dầy công nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm để Việt Nam đưa Trung Quốc ra Tòa án quốc tế. Hành vi này, trước hết, nhằm duy trì tính liên tục trong các tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo và các đảo bị chiếm đóng. Một vụ kiện Trung Quốc ở thời điểm hiện nay sẽ giúp Việt Nam thoát được cái bẫy “nguyên tắc đồng thuận” được quy định tại Tòa quốc tế.
Trung Quốc thường biện bạch về những “cơ sở lịch sử”, vì nhìn chung, Trung Quốc là quốc gia có truyền thống làm sử được xếp hạng trên thế giới. Tuy nhiên, tư liệu lịch sử thật của họ về biển đảo lại đuối lý hơn so với chúng ta. Trên thực tế, Trung Quốc là một “quốc gia lục địa” chứ không đủ điều kiện để được coi là quốc gia biển (do tỷ lệ đường bờ biển trên tổng diện tích lãnh thổ là một tỷ lệ thấp). Triết lý phát triển của họ xưa nay là “tư duy lục địa”. Não trạng người Trung Quốc là não trạng của cư dân bình nguyên và thảo nguyên chứ không phải là não trạng của ngư dân. Họ từng quay lưng ra biển từ hàng mấy ngàn năm trước. Có vô số chứng cớ về việc các triều đại phương Bắc đã giao phó trách nhiệm về Biển Đông cho các vua chúa Việt Nam, còn Trung Quốc chủ yếu “ngồi chờ báo cáo”.
Ngày nay cần gắn bảo vệ chủ quyền biển đảo với Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (10/4/2013) về việc tích cực và chủ động hội nhập toàn diện. Nghị quyết chỉ rõ, đường lối của nhà nước trong vấn đề biên giới lãnh thổ giúp ta tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế đối với chính sách đúng đắn và lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Trong khi nỗ lực phát huy sức mạnh nội tại, hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta nâng cao tiềm lực mọi mặt, trong đó có tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập toàn diện kiến tạo nên hệ thống đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, giúp ta cộng hưởng chặt chẽ hơn với khu vực và quốc tế trong việc thúc đẩy thực thi các hiệp định, hiệp ước ký kết với láng giềng, trong đó có các văn kiện liên quan đến biên giới, biển đảo, góp phần duy trì hòa bình và an ninh khu vực.
*
Tưởng niệm ngày Hoàng Sa bị chiếm đóng, chúng ta nhận thức rằng, biển đảo chỉ là một trong nhiều vấn đề hiện nay của bang giao Việt-Trung. Giới học thuật Trung Quốc gần đây đã tiết lộ một số quan điểm khá thực tiễn về tổng thể quan hệ Trung-Việt. Trong một bài viết của mình, tác giả Kha Tiểu Trại cho rằng không có cơ sở để tìm được “sự đột phá” trong quan hệ với Việt Nam. Quan hệ Trung-Việt chỉ có thể xếp trên quan hệ của Trung Quốc với Philippines. Theo tác giả, sự tương đồng ý thức hệ không phải là cơ sở cho “sự đột phá”. Thực tiễn lịch sử bang giao hàng ngàn năm nay đã chứng minh xu thế không mấy tích cực trong quan hệ giữa hai nước sau khi đã được bình thường hóa. Vẫn theo nghiên cứu gia này, điều cần làm hiện nay là phải “tái bình thường hóa” bang giao Trung-Việt.
Để kết thúc tham luận, xin nhắc lại ý kiến của nhiều chuyên gia: Hoàng Sa và Trường Sa từ nay là chất men mới để giáo dục lòng yêu nước. Hãy cổ võ trên cả nước các chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa”, “Ngàn thanh niên thế kỷ 21”, “Giấc mơ Việt Nam”, “Chương trình Minh triết về Biển Đông”, “Nuôi chí giành lại Hoàng Sa”. Từng cá nhân hãy xây dựng cho mình kế hoạch nâng cao năng lực bản thân để tăng sức mạnh cộng đồng. Hãy tích cực góp phần thực hiện tốt hòa giải, hòa hợp dân tộc, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, xây dựng đất nước trong ấm ngoài êm. Đó mới là nền tảng lâu bền để giữ vững Trường Sa và đòi lại Hoàng Sa. Chỉ một chút thờ ơ với bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh thổ đất nước, nơi bao máu xương cha ông đã đổ xuống để gìn giữ, cũng là đắc tội với tổ tiên.
                                   Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2014   
 (Tên bài do TSYG đặt)


Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

BA LẦN PHẢN BỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


TSYG: “Trong 30 năm qua, những người cầm quyền Trung Hoa đã ba lần phản bội nhân dân Việt Nam”. Đó là lời khẳng định đanh thép trong cuốn sách Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, một văn kiện quan trọng của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 4 tháng 10 năm 1979.
Đã nhận ra rằng bị Bắc Kinh phản bội ba lần đau đớn với giá đắt đến vô cùng như thế, mà bây giờ vẫn phải cay đắng gọi bọn họ là những người bạn 4 tốt, 16 chữ vàng! Lịch sử từ ngàn năm trước cho đến ngày hôm nay chỉ rõ rằng: tham vọng bành trướng, bá quyền đại Hán của giới cầm quyền Bắc Kinh ngày càng ngông cuồng, quyết liệt và nham hiểm. Sẽ không có gì lạ, nếu còn bị Bắc Kinh phản bội dài dài. Bao giờ mới sáng mắt đây?
Nhằm:
- Nhớ về những sự kiện đau thương của dân tộc trong quan hệ với Trung Quốc, 
- Kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa 19/1/1974 , 35 năm ngày Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh xâm lược ở Biên giới phía Bắc Việt Nam 17/2/1979 và 35 năm chiến thắng Biên giới Tây Nam,
- Tưởng niệm và tri ân các Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh tính mạng và tuổi thanh xuân của mình trong các cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược và tay sai của chúng, 
TSYG xin đăng lại Phần V của cuốn sách quí này:










































CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG CỦA BẮC KINH
MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI ĐỘC LẬP DÂN TỘC
HÒA BÌNH VÀ ỔN ĐỊNH Ở ĐÔNG NAM CHÂU Á
I
Việt Nam và Trung Hoa là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước luôn luôn gắn bó, giúp đỡ, cổ vũ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì lợi ích cách mạng của nhân dân mỗi nước. Nhân dân Việt Nam đã ủng hộ nhân dân Trung Hoa về chính trị và tinh thần, có lúc đã phối hợp chiến đấu cùng với nhân dân Trung Hoa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhân dân Trung Hoa, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cọng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược.
Nhân dân Việt Nam rất quý trọng và luôn luôn giữ gìn, vun đắp cho mối tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Hoa đời đời bền vững. Nhân dân Việt Nam không hề xâm phạm độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhân dân Trung Hoa, không hề can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Hoa. Đối với những vấn đề bất đồng về quan điểm hoặc những hành động sai trái do những người lãnh đạo Trung Hoa gây ra đối với Việt Nam, phía Việt Nam đã cố gắng và bền bỉ tìm cách giải quyết bằng con đường thảo luận nội bộ giữa hai bên.
Mặc dầu những người lãnh đạo Trung Hoa đang tâm phá hoại tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Trung Hoa đã dành cho nhân dân Việt Nam và rất mong muốn tình hữu nghị anh em giữa nhân dân hai nước sớm được khôi phục. Trong các cuộc đàm phán để giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nước, phía Việt Nam luôn luôn xuất phát từ lòng mong muốn thiết tha đó của nhân dân Việt Nam. Lập trường trước sau như một của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sớm khôi phục quan hệ bình thường giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên những nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mỗi nước và vì lợi ích của hòa bình, ôn định ở Đông nam châu Á và trên thế giới.



















II
Tóm lại, trong 30 năm qua, những người cầm quyền Trung Hoa đã ba lần phản bội nhân dân Việt Nam:
1.                       Tại Hội nghị Geneve năm 1954, họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc của nhân dân Việt Nam, không những để bảo đảm cho nước họ một vành đai an ninh ở phía nam, mà còn chuẩn bị địa bàn cho việc thực hiện mưu đồ bành trướng ở Đông Dương và Đông nam châu Á. Họ muốn duy trì tình trạng Việt Nam bị chia cắt lâu dài, hòng làm cho Việt Nam suy yếu và phải phụ thuộc vào Trung Hoa.
2.                       Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ thì họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam đang trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để đưa nước Cọng hòa nhân dân Trung Hoa lên địa vị “siêu cường thứ ba” và đổi chác lấy việc giải quyết vấn đề Đài Loan.
3.                       Sau khi nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam khỏi ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ và thống nhất nước nhà, họ đã dùng mọi thủ đoạn chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao để làm suy yếu nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hòng khuất phục nhân dân Việt Nam, tiến đến dùng lực lượng quân sự của bè lũ tay sai Pôn Pốt – Lêng xa ry xâm lược Việt Nam ở phía tây nam và lực lượng quân sự của Trung Hoa trực tiếp xâm lược Việt Nam ở phía bắc, giết hại nhân dân Việt Nam, phá hoại nghiêm trọng các cơ sở kinh tế, văn hóa của Việt Nam ở các vùng có chiến sự.
Ba lần họ phản bội Việt Nam, lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước!
Đối với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, những người cầm quyền Trung Hoa cũng đã phản bội độc ác và bẩn thỉu. Họ đã hy sinh lợi ích dân tộc của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia tại Hội nghị Geneve năm 1954, Trong thời kỳ sau Geneve, họ ngăn cản nhân dân Lào và nhân dân Campuchia đấu tranh cho độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập. Khi nhân dân Campuchia hoàn toàn giải phóng đất nước ngày 17 tháng 4 năm 1975, họ đã dùng bọn tay sai Pôn Pốt – Lêng xa ry để thực hiện chính sách diệt chủng, biến nước Campuchia thày một nước chư hầu kiểu mới, một căn cứ quân sự để từ đó tiến công nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở phía tây nam. Đối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, họ phá hoại công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân Lào, trang bị và giúp đỡ các lực lượng phản động ở Lào gây rối loạn, đưa nhiều sư đoàn áp sát biên giới Lào – Trung, hòng ép nhân dân Lào đi vào quỹ đạo của Bắc Kinh. Họ chia rẽ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, hòng làm suy yếu và thôn tính từng nước.
Để che giấu bộ mặt phản bội của họ, những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Hoa viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã “chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v.. Nhân dân Trung Hoa đã dành một phần thành quả lao động của mình để giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng đất nước, đó là điều mà nhân dân Việt Nam, trong bất cứ tình huống nào, mãi mãi không bao giờ quên. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là biểu hiện cao đẹp của mối tình đoàn kết chiến đấu của những người cùng chung cảnh ngộ, nhưng đối với tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đó là một công cụ chính trị để thực hiện chính sách bành trướng của họ ở Việt Nam cũng như trên toàn bán đảo Đông Dương. Thực tế đã chỉ rõ họ đã xử dụng viện trợ đó khi thì như “một củ cà rốt”, khi thì như “một cái gậy”, tùy theo yêu cầu chính trị từng lúc của họ.
Vả lại, không chỉ có vấn đề Trung Hoa giúp đỡ Việt Nam.
Những người lãnh đạo Trung Hoa đã nhiều lần nói rằng nói đến cám ơn thì nhân dân Trung Hoa phải cám ơn nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đã hi sinh nhiều, cống hiến nhiều đối với nhân dân Trung Hoa. Nhân dân Trung Hoa phải cám ơn và có nghĩa vụ giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Nhân dân hai nước giúp đỡ lẫn nhau.
Về việc Tổng thống Nixon đi thăm Trung Hoa năm 1972, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói với những người lãnh đạo Việt Nam tháng 6 năm 1973 như sau:
“Thành thực mà nói, nhân dân Trung Hoa, Đảng cộng sản Trung Hoa và nhân dân thế giới phải cám ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Nixon phải đi Bắc Kinh”.
Về việc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào Liên Hợp Quốc năm 1971, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nói trong cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam tháng 11 năm 1971:
“Cống hiến của Việt Nam rất lớn. Chúng ta gắn bó với nhau”.
Lịch sử - và trước hết là quân đội viễn chinh Pháp – đã trả lời rõ ràng câu hỏi: ai đã chiến đấu và chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954? Điều cần nói thêm là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chính phủ Trung Quốc có phái một số cố vấn sang Việt nam, và trong những năm 1960 Bắc kinh có đưa sang Việt Nam một lực lượng gọi là “bộ đội hậu cần” để giúp Việt Nam sửa những đoạn đường sắt và đường bộ giáp Trung Quốc bị bom Mỹ phá hỏng và làm một số đường mới ở vùng biên giới hai nước . Nhưng mặt chủ yếu họ làm là điều tra tình hình các mặt, thâm nhập những vùng có các dân tộc thiểu số và tuyên truyền “cách mạng văn hóa”. Phần lớn những gián điệp và “bộ đội sơn cước” mà phía Việt Nam đã bắt được trong tháng 2, tháng 3 vừa qua chính là những tên “bộ đội làm đường” Trung Quốc trước đây.
Từ sự phản bội ở Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954, việc lợi dụng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cưu nước của nhân dân Việt Nam đến việc dựng lên chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Lêng xa ry, vũ trang xâm lược Việt Nam và uy hiếp xâm lược Lào, tất cả đều do:
- một tư tưởng chỉ đạo:
         chủ nghĩa đại dân tộc
- một chính sách:
         ích kỷ dân tộc
- một mục tiêu chiến lược:    
        chủ nghĩa bành trướng đại dân    tộc và chủ nghĩa bá quyền nước lớn
Cụ thể là họ mưu toan thôn tính Việt Nam và toàn bộ Đông Dương, lấy đó làm bàn đạp tiến xuống Đông Nam châu Á và từng bước triển khai chiến lược toàn cầu của họ.
Để đạt mục tiêu và bành trướng bá quyền của họ-những người cầm quyền Bắc Kinh đã nâng lừa dối và bịp bợm thành một quốc sách, một thủ đoạn chiến lược.Về phương diện này, từ chỗ là những người học trò của Gơ ben 1, họ đã trở thành người thầy của Gơ ben. Họ gán cho người khác những điều mà họ muốn làm. Họ đổ vấy cho người khác những điều mà chính họ làm. Họ dựng đứng sự việc, xuyên tạc tài liệu, bóp méo lịch sử. Họ đổi trắng thay đen, đảo ngược phải trái và cứ thế mà tuyên truyền bằng bộ máy thông tin khổng lồ và mọi phương tiện khác. Họ giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội nhưng lại chống chủ nghĩa xã hội. Họ hò hét chống chủ nghĩa đế quốc nhưng chính họ bắt tay với đế quốc Mỹ. Họ kêu la phải chống hai siêu cường nhưng lại cấu kết với đế quốc Mỹ để chống Liên Xô. Họ nói chống chủ nghĩa bá quyền, nhưng chính họ mưu toan thực hiện chủ nghĩa bá quyền ở Đông Dương và Đông nam châu Á. Họ đưa quân xâm lược nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhưng lại vu cáo Việt Nam “xâm lược” Trung Quốc. Họ tỏ vẻ “bảo vệ nhân quyền”, quan tâm đến “những người Đông Dương di tản”, nhưng chính họ đã giết hại hàng triệu người Trung Quốc trong cuộc “đại cách mạng văn hóa”, đã xúi dục hơn 20 vạn người Hoa bỏ Việt Nam đi Trung Quốc. Đối với những người cầm quyền Bắc Kinh, luận điệu của họ là chân lý, lợi ích của họ là đạo lý.”Quan châu được đốt đèn, dân đen không được nổi lửa”, câu nói đó của những người nông dân Trung Quốc dùng trước đây để chỉ trích sự áp bức của bọn bạo chúa phong kiến đã trở thành phương châm của những người cầm quyền Bắc Kinh hiện nay nhằm thực hiện tham vọng bành trướng và bá quyền của họ.


1. Gơ-ben là Bộ trưởng tuyên truyền của Hit le. (BT)


Hiện nay những người lãnh đạo Trung Quốc đang ra sức nêu cao ngọn cờ đại dân tộc để tập hợp các phe phái, thực hiện kế hoạch “bốn hiện đại hóa”. Về đối ngoại, họ ra sức thực hiện chính sách bành trướng ở Đông Dương và Đông nam châu Á, cấu kết với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, trước hết là với Mỹ, chống Liên Xô và cách mạng thế giới, với hy vọng tranh thủ được nhiều vốn và kỹ thuật hiện đại của phương tây, phục vụ cho “bốn hiện đại hóa”. Và mưu đồ bành trướng và bá quyền của họ.
Một Trung Quốc bị đầu độc bởi tư tưởng đại dân tộc, chủ nghĩa bành trướng và bá quyền của những người cầm quyền, bất kể phát triển theo con đường nào, không phải chỉ đe dọa độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương, Đông nam châu Á và Nam Á, đe dọa hòa bình, ổn định ở khu vực này, mà còn đe dọa lợi ích nhiều mặt của các nước khác, kể cả các nước, vì lợi ích trước mắt, đang phụ họa với người cầm quyền Trung Quốc chống Việt Nam, Lào và Cam pu chia. Một số người thức thời trong các nhà chính trị và kinh doanh phương tây mới cảnh cáo chính phủ họ về hậu quả nặng nề có thể xảy ra khi đất nước Trung Quốc lại lâm vào một cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ mới, nhưng họ chưa nói tới những hậu quả còn nặng nề gấp bội đối với lợi ích của các nước trên thế giới, do chính sách bành trướng của những người lãnh đạo Trung Quốc gây ra.
Trong hàng nghìn năm qua, nước Việt Nam đã bị các hoàng đế Trung Quốc xâm lược hàng chục lần, nhân dân Việt Nam hiểu rõ những ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Trung Quốc, cho nên không một phút nào là không cảnh giác đối với họ. Thậm chí trong lúc đế quốc Mỹ đẩy cuộc chiến tranh xâm lược lên đến đỉnh cao nhất , nhân dân Việt Nam đứng trước những khó khăn chồng chất, nhưng đã thẳng thắn khước từ những đề nghị của những người lãnh đạo Trung Quốc đưa sang Việt Nam 20 vạn quân và số ô-tô cần thiết để đảm nhiệm việc vận chuyển quân sự từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam . Nhân dân Việt Nam luôn luôn giữ vững đường lới độc lập, tự chủ của mình không gì lay chuyển được, bất chấp sức ép dù là che giấu hay công khai, gián tiếp hay là trực tiếp, của những người cầm quyền Trung Quốc.
III
Mặc dầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979 đã thất bại thảm hại cả về quân sự và chính trị, những người lãnh đạo Trung Quốc vẫn theo đuổi chính sách điên cuồng chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn. Phía Trung Quốc vẫn giữ thái độ nước lớn trong cuộc đàm phán về những vấn đề thuộc quan hệ giữa hai nước, vẫn ngang ngược đe dọa “cho Việt Nam một bài học nữa”. Đồng thời họ tìm cách khôi phục chế độ diệt chủng Pôn-Pốt – Lêng Xa ry đã bị nhân dân Cam pu chia lật đổ hoàn toàn, đe dọa xâm lược nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nhằm duy trì sự uy hiếp từ mọi phía đối với Việt Nam.
“Không có gì quí hơn độc lập, tự do”. Nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế đúng đắn của mình, quyết đập tan mọi hành động xâm lược của bất kỳ thế lực phản động nào, quyết làm thất bại mọi mưu đồ bành trướng nhằm khuất phục nhân dân Việt Nam.
Nhân dân Việt Nam có chính nghĩa, lại có sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân, kết hợp với sức mạnh của ba dòng thác cách mạng vĩ đại đã và đang đẩy lùi từng bước các âm mưu can thiệp, nô dịch và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dấn cũ và mới, chủ nghĩa bành trướng, và chủ nghĩa bá quyền, ngày càng làm thay đổi bản đồ châu Á, châu Phi, và châu Mỹ La tinh. Bọn bành trướng Bắc Kinh, nếu không sớm rút ra những kết luận cần thiết từ sự thất bại từ chính sách chống Việt Nam vừa qua, thì nhất định sẽ chuốt lấy những thất bại mới nặng nề hơn. Trong thời đại ngày nay, các nước lớn nhỏ đều là bộ phận của một tổng thể duy nhất của xã hội loài người. Bọn bành trướng Bắc Kinh không thể đụng đến Việt Nam mà không khiêu khích cả loài người , không thách thức cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và mặt trận nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, các nước độc lập dân tộc và nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới đã và sẽ đứng về phía nhân dân Việt Nam.
Bằng chính sách bịp bợm “thân xa đánh gần” của các hoàng đế Trung Quốc và nhiều thủ đoạn xảo quyệt khác, những người cầm quyền Trung Quốc có thể còn che giấu được bộ mặt bành trướng của họ trong một thời gian. Nhưng sớm muộn nhân dân các nước ở Đông nam châu Á sẽ hiểu rằng chính sách thù địch của Bắc Kinh chống Việt Nam đe dọa độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không phải chỉ của riêng Việt Nam, mà của cả các nước trong khu vực. Mọi người chắc chưa quên rằng Bắc Kinh đã dùng “đạo quân thứ năm” người Hoa để gây rối loạn về chính trị, kinh tế ở nhiều nước thuộc Đông nam châu Á trước khi áp dụng ở Việt Nam. Hiện nay trong lúc họ tập trung cố gắng để chống Việt Nam, họ chẳng đang can thiệp một cách thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều nước khác ở châu Á đó sao ?
Những người cộng sản chân chính ở Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc trong ba mươi năm tồn tại của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã luôn luôn bị các tập đoàn thống trị lừa dối, sớm muộn sẽ nhận ra chân lý và sẽ đứng về phía nhân dân Việt Nam, sẽ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình, góp phần bảo vệ hòa bình và ổn định ở Đông nam châu Á và trên thế giới tuy lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thắng lợi vẻ vang.
Nước Việt Nam ngày nay sẽ đứng vững và tiếp tục phát triển trước mọi mưu ma chước quỷ của những người cầm quyền Bắc Kinh, và cũng như nước Việt Nam bốn nghìn năm qua đã đứng vững và phát triển trước những cuộc xâm lược liên tiếp của các hoàng đế Trung Quốc.
Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ sống trong hòa bình, hữu nghị và hợp tác, hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước và hợp với lợi ích của hòa bình ở Đông nam châu Á và trên thế giới.
Tháng 10 năm 1979