Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

NÓI VỀ BÀI “HAI BÀ TRƯNG” MỘT LẦN NỮA, RỒI THÔI !


Mình đã định thôi, không viết về đề tài này nữa. Thời gian qua, đã có nhiều tranh luận, trao đổi về bài “Hai Bà Trưng” trong sách Tiếng Việt 3, mình tưởng rằng các vấn đề xoay quanh câu chuyện như thế cũng tương đối rõ ràng rồi, viết nữa sẽ nhàm, nhảm và nham (nhở), làm mất thời gian quí báu của bà con.
Rồi mình tưởng rằng sau các bài Sách Tiếng Việt 3: Kẻ thù của Hai Bà Trưng là kẻ thù nào (blog Tâm Sự Y Giáo), Không chuẩn thì phải chỉnh (Tác giả: Nguyễn Quang Lập, Blog Quê Choa - Báo Phụ nữ TPHCM), Bài học nửa vời (Tác giả: Trần Cao Duyên, báo Thanh niên), Hai Bà Trưng đánh giặc nào? (VietnamNet, đăng lại từ TN), Tác giả sách giải thích Hai Bà Trưng đánh giặc nào (Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết, VietnamNet), SGK sai: Không nên đánh tráo khái niệm (Tác giả: Hà Văn Thịnh, VietnamNet)… thì bà con có thể yên tâm hy vọng rằng tập thể biên soạn sách Tiếng Việt 3 sẽ ghi nhận và chỉnh sửa câu mở đầu của bài “Hai Bà Trưng” cho phù hợp.
Nhưng hóa ra không phải như vậy.
Mới đây, mình được đọc bài trả lời báo Giáo dục Việt Nam ngày 8-9-2012 của GS. Nguyễn Minh Thuyết “Tôi chẳng việc gì phải sợ Trung Quốc”, thấy rằng nếu im lặng không nói gì thì té ra mình có lỗi với bản thân mình quá (hu hu, khổ thế đấy, toàn tự rước lấy cái khổ vào thân!). Đành phải viết thôi, mong bà con bỏ quá cho nhé.
Trước hết, cần nói ngay rằng trong bài báo này, lập luận của GS. Thuyết không thuyết phục mình được một chút nào. Mình sẽ từ từ giải thích:
1- Bài trả lời của GS dường như để thanh minh cho cá nhân nhiều hơn là tranh luận một vấn đề khoa học. Đại từ “tôi” được dùng “hơi bị” nhiều, mặc dù biên soạn SGK là công việc của cả một tập thể, (tất nhiên trong đó có vai trò quan trọng của chủ biên) .
2- GS. Thuyết thường dùng những phép so sánh ví von không phù hợp, chỉ làm cho người đọc phân tâm không còn chú ý tới vấn đề chính, chẳng hạn “dạy học cũng như đá bóng”,  “viết sách cũng như làm dâu trăm họ”, hoặc hàm ý so sánh việc bỏ đoạn cuối của bài “Lượm “ với việc bỏ cụm từ “giặc Hán”… Nếu dạy học cũng như đá bóng thì người dạy học sẽ đấu với ai, ai là trọng tài và ai là khán giả, kết thúc trận đấu sẽ như thế nào? Nếu ca thán: viết sách như là làm dâu trăm họ, dễ bị săm soi, nhiều khi như nàng dâu gặp mẹ chồng khó tính, thì hóa ra những yêu cầu về tính chuẩn mực của SGK đã được GS. Thuyết ví von với bà mẹ chồng khó tính sao? Một ngày kia lỡ mẹ chồng nàng dâu không còn nhìn mặt nhau nữa thì mẹ chồng lại phải đi tìm kiếm một  nàng dâu mới? Trong việc bỏ mấy câu cuối của bài Lượm, GS nhấn mạnh: “nếu cứ đưa lấy được, không lưu tâm đến tâm lý, khả năng tiếp nhận của học sinh thì khó đạt yêu cầu”. Phải chăng GS. Thuyết muốn nói việc định danh kẻ thù “giặc Hán” rồi đưa vào bài "Hai Bà Trưng" là “đưa lấy được”? … Có thể nói cách so sánh ví von như trên không ăn nhập với chủ đề chính và chẳng minh chứng được điều gì.
3- GS. Thuyết nhấn mạnh: đây không phải là bài học lịch sử mà là bài tập đọc, nhằm rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh, tức là GS cho rằng bài tập đọc được quyền bỏ qua tên gọi các đối tượng là giặc ngoại xâm mà cha ông chúng ta đã bao đời hy sinh để chiến đấu chống lại bọn chúng, giành lại độc lập cho dân tộc? (Mời bà con đọc một số đoạn "tập đọc giả định" trong phần Phụ lục để thấy sự vô lý đến kỳ cục của lập luận này). Nhưng rồi GS lại lý luận: “Những câu chuyện về lòng yêu nước chúng tôi dạy trong môn Tiếng Việt lớp 3 chỉ là những hạt gieo lượt đầu”. Hình ảnh bóng bẩy của “hạt gieo lượt đầu” không thể xóa được cái sự tự mâu thuẫn của GS, vì kỹ năng là kỹ năng, yêu nước là yêu nước chứ sao lúc thế này lúc lại thế khác. Chưa kể tới nguyên tắc sơ đẳng của việc gieo hạt là phải chọn những hạt giống tốt nhất, hạt phải được gieo trên những đám đất đầy đủ dinh dưỡng để hiệu suất hạt nảy mầm và lớn thành cây mạnh khỏe là cao nhất. Vụ nào dứt điểm vụ nấy, không có chuyện gieo hạt lần này rồi lại gieo lần sau, rồi lần sau nữa bổ sung. Bổ sung đợt này đợt khác như thế chỉ có trong việc bón phân mà thôi, tỉ như bón lót, bón thúc. Ngay như việc bón phân mà sai qui cách, cũng có thể phải gặt hái những cây, những quả còi cọc, bệnh tật. Nhưng chẳng lẽ lại đi so sánh việc dạy lòng yêu nước với việc bón phân?
GS. Thuyết còn tự mâu thuẫn khi bảo rằng “ tôi chưa thấy ai viết, ai nói “giặc Hán” bao giờ. Thế thì vì sao cũng ngay trong sách Tiếng Việt 3 do GS chủ biên lại thẳng thừng đề cập đến “giặc Nguyên”, “giặc Minh” chỉ sau đó có vài trang? Nói “giặc Nguyên”, “giặc Minh” thì được, còn dứt khoát không được đụng đến “giặc Hán”?
4- Điều quan trọng nhất mà TSYG muốn nhấn mạnh ở đây là hoàn cảnh ra đời của cuốn sách: “Năm 2001. tôi bắt đầu tham gia bộ sách Tiếng Việt dành cho học sinh tiểu học cùng với đồng nghiệp. Sau đó, sách được dạy thử nghiệm 3 năm, cho tới năm 2004 sách lớp 3 mới được triển khai dạy trên toàn quốc.
Xét về yếu tố lịch sử, vào thời điểm chúng tôi hoàn thành cuốn sách, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc không có gì căng thẳng tới mức phải e dè”.
Câu nói “quan hệ Việt Nam – Trung Quốc không có gì căng thẳng tới mức phải e dè” là một câu nói sai, tiếc rằng đây lại là lập luận chính trong việc chứng minh “tôi (hoặc chúng tôi) không có gì phải sợ Trung Quốc”. Các phát biểu khác nói về chuyện "không sợ Trung Quốc" chẳng khác gì hô khẩu hiệu, lại không có thông tin gì.
Sai, là vì trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mấy chục năm gần đây, những năm 1978-1988 là khoảng thời gian căng thẳng nhất, đã từng xảy ra chiến tranh ở hai đầu của Tổ Quốc Việt Nam, thì người Việt Nam chúng ta đã nói về Trung Quốc một cách không e dè nhất. Từ các bài xã luận, bản tin trên báo chí cho đến những bài văn, thơ hay bài hát, đâu đâu cũng hừng hực khí thế chống Trung Quốc xâm lược. Những ngôn từ mô tả Trung Quốc lúc ấy đều được huy động với tần suất tối đa: xâm lược, bành trướng, bá quyền, sô-vanh nước lớn, đại bá, đại Hán, phản cách mạng, phản bội Việt nam, phản động Bắc Kinh…
Hiến pháp 1980 của nước CHXHCN Việt nam ghi rõ ràng trong Lời nói đầu: “Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình”.
Tháng 10 năm 1979, Nhà xuất bản Sự thật còn cho xuất bản cuốn sách SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA, gồm 5 phần, trong đó vạch rõ âm mưu hết sức xảo quyệt và thâm độc của Trung Quốc đối với Việt Nam từ 1949 đến 1979 (mời bà con xem các mục chính trong phần Phụ lục cuối bài).
Như thế, trong thời kỳ hết sức căng thẳng này, người Việt Nam chúng ta được tha hồ thoải mái kể hết các tội mà nhà cầm quyền Bắc Kinh gây ra cho Việt Nam. Càng căng thẳng thì chúng ta lại càng không e dè. Kiểu lập luận “quan hệ Việt Nam – Trung Quốc không có gì căng thẳng tới mức phải e dè” rõ ràng là hoàn toàn không khoa học, không logic và cực kỳ trái với thực tế!
Đến nay chúng ta chưa hiểu chuyện gì xảy ra, mà đầu năm 1999, TBT Trung quốc là Giang Trạch Dân đưa ra “phương châm 16 chữ vàng” cho quan hệ Việt – Trung: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Sau đó, cảm thấy chưa “đủ đô”, năm 2002 ông Giang Trạch Dân còn tung ra thêm đề xuất hai nước Trung Quốc và Việt Nam mãi mãi tuân theo “tinh thần 4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Từ đó người Việt Nam không còn nói về Trung Quốc “thoải mái” như trước được nữa.
Điều kỳ quặc là gần đây, liên tục xảy ra những sự cố mà dư luận Việt  Nam không thể chấp nhận, cuối cùng đều được giải thích là “do cậu đánh máy quên ghi chữ ngang ngược”, “do sai sót kỹ thuật”, … Chẳng hạn  vụ báo điện tử ĐCSVN đăng lại bài của TQ, vụ VTV treo hình cờ TQ có 6 sao, vụ trẻ em Việt Nam dùng cờ 6 sao để vẫy chào trong buổi đón Tập Cận Bình…

VTV treo cờ 6 sao của Trung Quốc ngày 14/10/2011



Thêm 1 sao trên tay con trẻ, lá cờ sẽ nặng thêm biết bao nhiêu!


Tập Cận Bình có vẻ hài lòng?
Trở lại câu chuyện, xin thưa rằng theo mốc thời gian mà GS Thuyết cho biết, cuốn sách tiếng Việt 3 thử nghiệm ra đời năm 2001, nghĩa là sau cái phương châm 16 chữ vàng 2 năm, còn sách chính thức thì sau cái phương châm đó đến 5 năm. Phải chăng cái “phương châm 16 chữ vàng” và cái “tinh thần 4 tốt” chính là hàng rào ngăn không cho “giặc Hán” được đưa vào bài “Hai Bà Trưng”? Việc thiếu cụm từ "giặc Hán" trong bài "Hai Bà Trưng" có nằm trong danh sách các vụ "kỳ quặc" nói trên không?
TSYG vẫn tin rằng đến lúc nào đó, bài “Hai Bà Trưng” trong sách Tiếng Việt 3 sẽ được mở đầu bằng một câu dung dị, dễ hiểu và đúng với sự thật: “Thuở xưa, nước ta bị giặc Hán đô hộ”… GS. Thuyết chưa làm điều đó được thì sẽ có người sau nữa sẽ làm.
Và mình xin chấm dứt câu chuyện ở đây, không viết thêm bài nào về “Hai Bà Trưng đánh giặc nào” nữa, bà con nhá.


Phụ lục 1: SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA
Phần Thứ Nhất: Việt Nam trong chiến lược của Trung Quốc
I-                  Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc
II-               Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc

Hình trong cuốn sách về "Đường lưỡi bò" của TQ

Phần Thứ Hai: Trung Quốc với việc kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương năm 1954
I-                  Sau Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam có khả năng hoàn toàn giải phóng đất nước.
II-               Lập trường của Trung Quốc ở Giơnevơ khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng phù hợp với lập trường của Pháp.
III-            Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương và Sự phản bội của những người lãnh đạo Trung Quốc.
Phần Thứ Ba: Trung Quốc với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà (1954-1975).
I-                  Thời kỳ 1954-1964: Những người cầm quyền Trung Quốc ngăn cản nhân dân Việt Nam đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà.
II-               Thời kỳ 1965-1969: Làm yếu và kéo dài cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
III-            Thời kỳ 1969-1973: Đàm phám với Kỹ trên lưng nhân dân Việt Nam
IV-           Thời kỳ 1973-1975: Cản trở nhân dân Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam
Phần Thứ Tư:  Trung Quốc với nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất (từ tháng 5 năm 1975 đến nay)
I-                  Trung Quốc sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam
II-               Điên cuồng chống Việt Nam nhưng còn cố giấu mặt
III-            Điên cuồng chống Việt Nam một cách công khai
Phần Thứ Năm: Chính sách bành trướng của Bắc Kinh – Mối đe dọa đối với độc lập dân tộc, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Châu Á.
I-                  Hòa bình ổn định ở Đông nam châu Á và trên thế giới
II-               Tóm lại trong 30 năm qua…
III-            Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
(hết)
Phụ lục 2: Một số đoạn “Tập đọc giả định” do TSYG đề nghị, qua đó bà con có thể thấy kiểu vào đề tù mù như hũ nút, không giống ai:
1)    Ngày xưa, nước ta bị giặc từ nước ngoài sang xâm chiếm… Chúng đã bị vua Quang Trung đánh cho tan tành không còn mảnh giáp. Tướng giặc là Tôn Sĩ Nghị đã phải chui vào ống đồng trốn về nước…
2)    Thuở ấy, nước ta bị giặc sang xâm chiếm. Chúng gây ra biết bao tội ác với dân ta… Lê Lợi đã dấy binh khởi nghĩa… chém chết tướng giặc Liễu Thăng, các tướng giặc khác là Vương Thông, Hoàng Phúc phải xin hàng nghĩa quân…
3)    Ngày ấy, quân viễn chinh của giặc sang xâm lược nước ta… Quân đội ta, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kiên trì bao vây, tấn công quân giặc, phá tan căn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tướng giặc Đờ Cat-tơ-ri đã phải phất cờ trằng, giơ tay xin hàng…

4) Thế lả đủ rồi, bà con há...

PS: Bà con nào tinh ý thử xem bài Bài học nửa vời của Trần Cao Duyên - Báo TN ngày 4-9-2012 và bài Sách Tiếng Việt 3: Kẻ thù của Hai Bà Trưng là kẻ thù nào, của TSYG ngày 19-8-2012 có "anh em họ hàng" gì không?
   Theo nhận xét của một số anh em bạn hữu, trong đó có bác Nguyễn Tường Thụy, đây là hai bài giống nhau về kịch bản của câu chuyện và bố cục của bài viết. Mở đầu giống nhau, lên cao trào giống nhau, kết luận cũng giống luôn. Giống nhau như thế thì quá hiếm, có lẽ do "tư tưởng lớn gặp nhau"?? Hì hì !
    Nhưng vẫn có sự khác nhau: bài của bác Duyên trên TN ra đời sau bài của TSYG đến nửa tháng và bác Duyên có nhuận bút, còn TSYG thì không được gì, lại còn bị vợ giận dỗi vì viết blog mà TSYG sao nhãng thiếu quan tâm đến vợ con, hu hu hu!!
    Đùa chút chơi vậy thôi, chứ TSYG cảm thấy rất vui vì chủ đề này được bà con khắp nơi hưởng ứng nồng nhiệt, có lẽ cũng góp phần nâng cao "tinh thần cảnh giác cách mạng"?

11 nhận xét:

Nặc danh nói...

Hay lắm TSYG. Bài này lại cho thấy một quan chức tồi trong guồng máy hiện tại, cố biện minh nhưng đã không thành công!

tran hung nói...

Quan điểm của cháu dư lày:Đã đành tập đọc và lịch sử là 02 môn khác nhau, nhưng nếu có thể thì tại sao không kết hợp luôn, chính xác một sự kiện lịch sử thành một đoạn văn hoàn chỉnh để các cháu tập đọc.
Trường hợp này, thêm đích danh giặc mà hai Bà Trưng chống vào trong câu có làm cho việc tập đọc của các cháu trở nên khó khăn hơn đâu mà lại được cái lợi là sau này khi học đến giai đoạn lịch sử đó của dân tộc trong môn lịch sử thì các cháu sẽ nhớ hơn, thuộc hơn.

Hoa Cải nói...

Tôi cũng góp còm lần cuối cùng: Ủng hộ ông Giáo.

Tâm Sự Y Giáo nói...

Cảm ơn bác Hai Quả, bác Trần Hùng, bác ND 08:29 đã chia sẻ. Quả thật TSYG oải lắm rồi với mấy cái 'ní nuận' cù nhầy. Nhưng hứa với các bác, TSYG sẽ thôi không bàn về chuyện này nữa, để thời gian chăm sóc vợ con, có ích hơn!

Hạnh Phúc Mỗi Ngày nói...

Entry quá hay...đọc thấy được đâu là ngụy biện và đâu là logic thực sự. Ngụy biện và xảo thuật...theo kiểu Chinese rồi sẽ bị vạch trần. Chân thành cảm ơn TSYG đã dạy thêm nhiều bài học.

Vi Vu nói...

Cái logic của một ông làng Văn (GS Thuyết) làm sao "qua mặt" được cái logic của một ông làng Toán (TSYG), phải không pà con!

Tâm Sự Y Giáo nói...

Thank you hai bác HPMN va ViVu. Sự thực thì nhà em oải về đề tài này rồi nên chỉ viết bài này nữa thôi. Chẳng qua không nói mấy lời thì lại thấy "khó ở" trong người.

Thứ nhất là sợ cò cưa,
Thứ nhì là ngán đong đưa cù nhầy...
Nếu mà càng nói càng sai,
Thì thôi, xin để ngoài tai cho (nó) lành!

Canh Le nói...

Quả thật, tôi cũng mệt mỏi, mặc dù rất hứng thú với đề tài lịch sử ... Tính không bình luận gì thêm nữa, vì tôi đã làm tốn "giấy" của bác Nguyễn Tường Thụy và bác Tâm Sự Y Giáo khá nhiều rồi ...

Từ đầu đến cuối, quan điểm nhất quán của tôi, dù nói xa nói gần, vẫn luôn là mong muốn các nhà sử học Việt Nam hãy cố gắng "khai quật" lịch sử, trả lại cho lịch sử tính sinh động và khách quan, vốn là thuộc tính quan trọng của lịch sử ! Lịch sử Việt Nam có quá nhiều khuất tất !

Làm sách giáo khoa với làm tin thời sự là hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn độc lập với nhau ! Tôi không hề quan tâm đến quan hệ Việt - Trung như thế nào trước, trong, và sau thời điểm làm sách. Tôi cũng không hề quan tâm đến việc những người làm sách "sợ" hay "không sợ" ...

( Nếu có, chỉ là câu : Trung Quốc liên tục qua các đời Ân ( gián đoạn Chu, Tần ), Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Cộng ... đều âm mưu xâm lược và đồng hóa Việt Nam. Và hai câu trích dẫn lời của vua Trần Nhân Tông và vua Lê Thánh Tông )

Tôi chỉ thấy : việc không ghi tên "giặc Hán" vào câu mở đầu của bài "Hai Bà Trưng" là một sai sót !

Sai sót về mặt lịch sử : thiếu sinh động và khách quan !

Sai sót về mặt văn học : thiếu sáng sủa và chính xác cho một câu văn !

Và mong những người có trách nhiệm hãy nhận ra thiếu sót này và tìm cách sửa chữa ! Hãy VỊ THA, là bao nhiêu thế hệ học sinh ; đừng VỊ KỶ, là cái lòng tự ái của mình !

LÀM VĂN HÓA SAI THÌ DI HẠI MUÔN ĐỜI !

Tâm Sự Y Giáo nói...

Lịch sử VN bị chi phối bởi chính trị quá nặng nề.
Rồi cũng vì chính chị chính em, nên mới có sự "sai sót" mà chúng ta đang tranh luận.
Bác Lê Cảnh cứ quan sát rồi sẽ thấy, sẽ không có sự điều chỉnh gì đâu, 16 chữ vàng không cho phép.
Mọi lời giải thích đều vòng vo, quanh co, quanh co bác ạ.

Hai Quả nói...

Sau những ồn ã phản biện và tranh cãi gay gắt về cuốn SGK tiếng Việt lớp 3 "Hai Bà Trưng đánh giặc nào", rút cục có 1 khái niệm nhanh chóng được "dân...gian" tổng kết. Đó là hội chứng "Hai Bà Trưng", mà người đời vui đùa gọi là hội chứng Sợ! Ở đây, là sợ va chạm, sợ đụng chạm, và cao nhất là sợ đối diện với sự thật.

Nhưng hội chứng "Hai Bà" này, hóa ra khá...thời thượng và phổ biến. Và nếu pháp luật không được thượng tôn, nếu thiết chế quản lý lỏng lẻo, nếu con người luôn cầu an và thỏa hiệp, thì rút cục trong xã hội, sẽ diễn ra nghịch lý: Người ngay sợ kẻ gian. Cái tốt sợ cái xấu. Cái hay sợ cái dở. Cái chính sợ cái tà.
Nguồn đây,
Chúc mừng ông Giáo, cha đẻ của thuật/thành ngữ mới: Hội chứng Hai Bà
P/s: Nhưng bạn đọc cũng cần lưu ý Hai Bà viết hoa mới là của ông Giáo nhé :-) hai bà mà viết thường là của hai... quả :-)

Tâm Sự Y Giáo nói...

Khà khà! Cảm ơn bác Hai Quả đã phong chức cho nhà em. Ngoài chức năng làm cha của mấy đưa con (cha đẻ hẳn hoi), bi giờ nhà em còn là cha đẻ của một cái khác. Khoái quá khoái quá!